Luật 2008 Bạc Liêu

diễn đàn lớp luật 2008
 
IndexPortalCalendarGalleryTrợ giúpTìm kiếmThành viênNhómĐăng kýĐăng Nhập

Share | 
 

 Các phương pháp quản lý hành chính-lý luận và thực tiễn.

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
tranngocduong



Tổng số bài gửi : 84
Join date : 10/03/2012
Age : 26
Đến từ : hoa binh_bac lieu

Bài gửiTiêu đề: Các phương pháp quản lý hành chính-lý luận và thực tiễn.   Thu Apr 19, 2012 8:34 pm

Lời nói đầu
---------
1. Lý do nghiên cứu
Bất cứ tổ chức nào cũng không thể thiếu sự quản lý, trong đó phương pháp quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc điều hành tổ chức sao cho tổ chức đó đạt tới sự ổn định và không ngừng phát triển.
Phương pháp quản lý có vai trò quan trọng trong hệ thống quản lý. Trong hoàn cảnh cụ thể, phương pháp quản lý có tác dụng quan trọng đến sự thành công hay thất bại của các nhiệm vụ, mục tiêu quản lý. Vì vậy, vận dụng các phương pháp quản lý là một nội dung cơ bản của hoạt động quản lý. Mục tiêu, nhiệm vụ quản lý được thực hiện thông qua tác động của các phương pháp quản lý.
Quản lý hành chính Nhà nước là một lĩnh vực công tác hết sức quan trọng và có tác động rất lớn đối với sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia.
Cuộc sống và xã hội rất phong phú và không ngừng phát triển, do đó công tác quản lý hành chính Nhà nước cũng phải được thường xuyên cải tiến, nâng cao và hoàn thiện để đáp ứng những yêu cầu của từng thời kì phát triển Đất nước.
Trên thực tế, sự tuân thủ của đối tượng quản lý đối với luật lệ, phép tắc luôn gặp phải những hạn chế nhất định. Phương pháp quản lý hành chính Nhà nước với tính chất quyền uy, tác động mạnh mẽ đến đối tượng, đồng thời có sự cưỡng chế của chủ thể quản lý sẽ là biện pháp khắc phục có hiệu quả. Do đó quản lý hành chính Nhà nước lại càng có tầm đặc biệt quan trọng, đây cũng chính là lý do để người viết chọn đề tài “ CÁC PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ” làm niên luận.
2. Phạm vi nghiên cứu
Các phương pháp quản lý hành chính Nhà nước rất phong phú và đa dạng, trong phạm vi niên luận, người viết chỉ có thể nghiên cứu một vài phương pháp quản lý hành chính Nhà nước như: phương pháp thuyết phục; phương pháp cưỡng chế Nhà nước; phương pháp hành chính; phương pháp kinh tế; phương pháp quản lý có mục tiêu, định hướng; phương pháp tác nghiệp và phương pháp kiểm tra.
3. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, người viết dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa biện chứng để xem xét các vấn đề có liên quan, sử dụng kết hợp các phương pháp liệt kê – tổng hợp, diễn dịch – quy nạp, người viết tiếp cận dưới góc độ thực tiễn trong quá trình nghiên cứu.
4. Bố cục đề tài
Bao gồm:
Lời mở đầu.
Mục lục.
Chương 1: Một số vấn đề về quản lý hành chính Nhà nước.
Chương 2: Các phương pháp quản lý hành chính Nhà nước ở Việt Nam.
Chương 3:Thực trạng các phương pháp quản lý hành chính Nhà nước và Những giải pháp nhằm năng cao hiệu quả quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam.
Kết Luận.
Danh mục tài liệu tham khảo.

Sinh viên thực hiện
Trần Ngọc Dương



















CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

1.1. Khái niệm và đặc điểm quản lý
1.1.1. Khái niệm quản lý
Dưới góc độ khoa học, khái niệm về “quản lý” có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Với ý nghĩa thông thường, phổ biến thì quản lý có thể hiểu là hoạt động tác động một cách có tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý tới những đối tượng quản lý để điều chỉnh chúng vận động và phát triển theo những mục tiêu nhất định đã đề ra. Một cách tổng quát nhất, quản lý được xem là quá trình tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định, đó là sự kết hợp giữa tri thức và lao động trên phương diện điều hành.
Dưới góc độ chính trị: quản lý được hiểu là hành chính, là cai trị.
Dưới góc độ xã hội: quản lý là điều hành, điều khiển, chỉ huy.
Dù dưới góc độ nào đi chăng nữa, quản lý vẫn phải dựa những cơ sở, nguyên tắc đã được định sẵn và nhằm đạt được hiệu quả của việc quản lý, tức là mục đích của quản lý.
Tóm lại, quản lý là sự điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật, định luật hay nguyên tắc tương ứng cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo đúng ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đã đặt ra từ trước. Quản lý là một yếu tố thiết yếu quan trọng, quản lý không thể thiếu được trong đời sống xã hội. Xã hội càng phát triển cao thì vai trò của quản lý càng lớn và nội dung càng phức tạp. Quản lý là sự đòi hỏi tất yếu khi có hoạt động chung của con người.
Ví dụ: trưởng phòng quản lý các nhân viên cấp dưới của mình.
1.1.2. Đặc điểm của quản lý
Quản lý là sự tác động có mục đích đã được đề ra theo đúng ý chí của chủ thể quản lý đối với các đối tượng chịu sự quản lý. “Đúng ý chí của người quản lý” cũng đồng nghĩa với việc trả lời câu hỏi tại sao phải quản và quản lý để làm gì?, Chủ thể của quản lý là con người hay tổ chức, những cá nhân, tổ chức này phải là những đại diện có quyền uy, có quyền hạn và trách nhiệm, phối hợp những hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân hướng tới mục tiêu chung nhằm đạt được kết quả nhất định trong quản lý.
Quản lý muốn được thực hiện phải dựa trên cơ sở tổ chức và quyền uy.
Tổ chức là sự phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của những người cùng tham gia hoạt động chung.
Theo Ph.Ăngghen, “quyền uy là sự trói buộc, áp đặt ý chí của kẻ này buộc kẻ khác phải phục tùng. Vì vậy, quyền uy lấy phục tùng làm tiền đề. Quyền uy và phục tùng tạo thành nội dung của quyền lực quản lý. Không thể có quản lý nếu nếu không có quyền lực, dù đại diện quyền lực ấy là một người hay một tập thể. Vì có quyền lực nên ý chí của chủ thể quản lý trở thành ý chí thống trị buộc đối tượng bị quản lý phải phục tùng, và chính bản thân quản lý là sự thực hiện quyền lực này.”
Như vậy, quyền lực phục tùng là đặc trưng của phương pháp quản lý xã hội.
Trong xã hội chưa có Nhà nước quyền lực đó mang tính chất xã hội (quyền lực xã hội). Nó được củng cố, bảo đảm bằng uy tín của chủ thể quản lý, bằng sự tôn trọng của các thành viên trong cộng đồng, bằng thói quen, tập quán, truyền thống, đạo đức, tôn giáo mà đa phần được thể hiện dưới hình thức những quy phạm xã hội. Quyền lực xã hội còn được thể hiện, khi cần thiết bằng những hình thức cưỡng chế đặc biệt do cả tập thể cộng đồng (thị tộc, bộ lạc) áp dụng đối với những người hay nhóm người vi phạm các quy tắc quả lý cộng đồng (ví dụ, hội nghị toàn thể thị tộc), còn thường là những thủ lĩnh có tài năng, kinh nghiệm, uy tín hoặc tập thể những người có tài năng, uy tín do tất cả thành viên cộng đồng bầu ra.
1.2. Quản lý Nhà nước
1.2.1. Nhà nước
1.2.1. 1. Khái niệm Nhà nước
Theo nghĩa pháp luật, Nhà nước là một tổ chức xã hội đặc biệt của quyền lực chính trị được giai cấp thống trị thành lập nhằm thực hiện quyền lực chính trị của mình. Nhà nước vì thế mang bản chất giai cấp. Nhà nước xuất hiện kể từ khi xã hội loài người bị phân chia thành những lực lượng giai cấp đối kháng nhau; Nhà nước là bộ máy do lực lượng nắm quyền thống trị (kinh tế, chính trị, xã hội) thành lập nên, nhằm mục đích điều khiển, chỉ huy toàn bộ hoạt động của xã hội trong một quốc gia, trong đó chủ yếu để bảo vệ các quyền lợi của lực lượng thống trị. Thực chất, Nhà nước là sản phẩm của cuộc đấu tranh giai cấp.
1.2.1.2. Đặc điểm của Nhà nước Nhà nước là đại diện chính thức cho ý chí và nguyện vọng của toàn dân, là đại diện chính thức cho toàn xã hội. Nhà nước phân chia dân cư theo lãnh thổ thành đơn vị hành chính không phụ thuộc chính kiến, huyết thống, nghề nghiệp hoặc giới tính. Nhà nước ban hành pháp luật và thực hiện sự quản lý bắt buộc đối với mọi tầng lớp dân cư. Nhà nước quy định và thực hiện việc thu các loại thuế dưới hình thức bắt buộc. Nhà nước là đại diện chính thức của quốc gia trong quan hệ đối ngoại với các quốc gia khác trên thế giới.
1.2.2. Quản lý Nhà nước
1.2.2.1 . Khái niệm quản lý Nhà nước
Quản lý Nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, gắn với chức năng, vai trò của Nhà nước trong xã hội có giai cấp. Quản lý Nhà nước tiếp cận với nghĩa rộng nhất bao gồm toàn bộ các hoạt động: hoạt động lập pháp của cơ quan lập pháp, hoạt động hành chính (chấp hành và điều hành) của hệ thống hành pháp và hoạt động tư pháp của hệ thống tư pháp.
“Quản lý Nhà nước” là một dạng quản lý xã hội thực thi quyền lực Nhà nước; dạng quản lý này được thực hiện trong các cơ quan hành chính nhà nước.
Điều 12, Hiến pháp 1992: “Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật, không ngừng tăng cường pháp luật xã hội chủ nghĩa”
Theo định nghĩa của liên hiệp quốc, quản lý Nhà nước tương đồng với khái niệm quản lý Quốc gia, có nghĩa là: quản lý Nhà nước một cách hợp lý, có hiệu quả, công khai, minh bạch và có sự tham gia của các chủ thể liên quan.
Quản lý Nhà nước là quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước, sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu và quan trọng của con người.
Quản lý Nhà nước là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước.
1.2.2.2. Đặc điểm của quản lý Nhà nước
Quản lý Nhà nước là sự tác động của các chủ thể mang quyền lực Nhà nước, chủ yếu bằng pháp luật đến đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước.
Như vậy, tất cả các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước đều làm chức năng quản lý Nhà nước.
Pháp luật là phương tiện chủ yếu để quản lý Nhà nước. Bằng pháp luật, Nhà nước có thể trao quyền cho các tổ chức hoặc các cá nhân để họ thay mặt Nhà nước tiến hành hoạt động quản lý Nhà nước.
1.3. Quản lý hành chính Nhà nước
1.3.1. Khái niệm về quản lý hành chính Nhà nước
Trong quản lý Nhà nước nói chung, hoạt động quản lý hành chính là hoạt động có vị trí trung tâm, chủ yếu. Đây là hoạt động tổ chức và điều hành để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cơ bản nhất của Nhà nước trong quản lý xã hội.
Có thể hiểu quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước.
Quản lý hành chính Nhà nước là một hình thức hoạt động của Nhà nước, được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính Nhà nước, có nội dung là đảm bảo sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan quyền lực, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp, thường xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hoá xã hội và hành chính, chính trị. Nói cách khác, quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành của Nhà nước.
Chủ thể của quản lý hành chính Nhà nước là các cơ quan hành chính Nhà nước, cán bộ, công chức Nhà nước có thẩm quyền, các cơ quan kiểm sát, xét xử và các tổ chức xã hội, cá nhân được Nhà nước trao quyền quản lý hành chính trong một số trường hợp cụ thể.
Khách thể của quản lý hành chính Nhà nước là trật tự quản lý hành chính.
1.3.2. Đặc điểm của quản lý hành chính Nhà nước
 Quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động mang quyền lực Nhà nước.
Quyền lực Nhà nước trong quản lý hành chính Nhà nước trước hết thể hiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí Nhà nước thông qua phương tiện nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng là văn bản quản lý hành chính Nhà nước;
Bằng việc ban hành văn bản, chủ thể quản lý hành chính Nhà nước thể hiện ý chí của mình dưới dạng các chủ trương, chính sách pháp luật nhằm định hướng cho hoạt động xây dựng và áp dụng pháp luật;
Dưới dạng quy phạm pháp luật nhằm cụ thể hóa các quy phạm pháp luật của cơ quan quyền lực Nhà nước và của cấp trên thành những quy định chi tiết để có thể triển khai thực hiện trong thực tiễn;
Dưới dạng các mệnh lệnh cá biệt nhằm áp dụng pháp luật vào thực tiễn, trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý; dưới những dạng mệnh lệnh chỉ đạo cấp dưới trong hoạt động, nhằm tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn.
 Dưới dạng những thông tin hướng dẫn đối lập với cấp dưới nhằm đảm bảo sự thống nhất, có hệ thống của bộ máy hành chính Nhà nước.

Bên cạnh đó, quyền lực Nhà nước còn thể hiện trong việc các chủ thể có thẩm quyền tiến hành những hoạt động cần thiết để bảo đảm thực hiện ý chí Nhà nước, như các biện pháp về tổ chức, về kinh tế, tuyên truyền giáo dục, thuyết phục cưỡng chế. Chính những biện pháp này là sự thể hiện tập trung và rõ nét của sức mạnh Nhà nước, một bộ phận tạo nên quyền lực Nhà nước, nhờ đó ý chí của chủ thể quản lý hành chính nhà nước được bảo đảm thực hiện.
Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt hoạt động quản lý hành chính với những hoạt động quản lý không mang tính quyền lực Nhà nước, nhu quản lý trong nội bộ của các đảng phái chính trị, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp trong các hoạt động quản lý phi Nhà nước, quyền lực cũng được sử dụng nhưng không phải là quyền lực Nhà nước, chỉ tác động trong nội bộ tổ chức, nhằm đạt mục tiêu của tổ chức trong khuôn khổ pháp luật; các chủ thể quản lý cũng thể hiện ý chí và sử dụng sức mạnh của mình để bảo đảm thực hiện ý chí đó, tuy nhiên họ chỉ nhân danh cá nhân hay tổ chức mình mà không nhân danh Nhà nước.
 Quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể có quyền năng hành pháp.
Cách hiểu phổ biến hiện nay thì Nhà nước có ba quyền năng: lập pháp, hành pháp và tư pháp.Trong đó, quyền năng hành pháp trước hết và chủ yếu thuộc về các cơ quan hành chính Nhà nước, tuy nhiên trong rất nhiều hoạt động khác như: việc ổn định tổ chức nội bộ của các cơ quan Nhà nước, hoạt động quản lý được tiến hành bởi các bộ Trong những trường hợp này quyền năng hành pháp cũng thể hiện rõ nét và nếu xét về bản chất thì tương đồng với hoạt động hành pháp của các cơ quan hành chính Nhà nước. Do đó, có thể kết luận chủ thể quản lý hành chính Nhà nước là các chủ thể mang quyền lực Nhà nước trong lĩnh vực hành pháp, bao gồm: cơ quan hành chính Nhà nước và công chức của những cơ quan này; thủ trưởng của các cơ quan Nhà nước; các công chức Nhà nước, cá nhân hoặc tổ chức xã hội được nhà nước ủy quyền quản lý hành chính đối với một số loại việc nhất định.
Như vậy, quản lý hành chính Nhà nước có đối tượng tác động là các quan hệ xã hội phát sinh trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ quan trọng tới ít quan trọng, từ phổ biến tới cá biệt, phát sinh trong đời sống dân cư, đời sống pháp luật và trong nội bộ của các cơ quan Nhà nước. Trong khi đó hoạt động lập pháp, tư pháp chỉ phát sinh trong phạm vi tương đối hẹp, có đối tượng tác động là những quan hệ xã hội quan trọng.
 Quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức chặt chẽ.
Để bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động hành pháp, bộ máy các cơ quan hành pháp được tổ chức thành một khối thống nhất từ Trung ương tới địa phương, đứng đầu là Chính phủ, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của cả nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả, tránh được sự cục bộ phân hóa giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau.
Tuy nhiên. do mỗi địa phương đều có những nét đặc thù riêng về điều kiện kinh tế - xã hội, nên để có thể phát huy tối đa những yếu tố của từng địa phương, tạo sự năng động sáng tạo trong quản lý điều hành, bộ máy hành chính còn được tổ chức theo hướng phân cáp, trao quyền tự quyết, tạo sự chủ động sáng tạo cho chính quyền địa phương.
Để cùng lúc đạt được hai mục đích này, nguyên tắc “hai chiều lệ thuộc” được sử dụng như một giải pháp hữu hiệu trong việc tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước. Theo đó, loại trừ Chính phủ là cơ quan đứng đầu bộ máy hành chính Nhà nước thì mỗi cơ quan khác trong bộ máy này đều lệ thuộc vào hai cơ quan: một cơ quan theo chiều dọc để đảm bảo sự thống nhất của bộ máy; một cơ quan theo chiều ngang để đảm bảo sự chủ động của mỗi cấp quản lý. Vấn đề căn bản được đặt ra trong việc tổ chức bộ máy hành chính Nhà nước là xác định hợp lý thẩm quyền của mỗi cấp quản lý, vừa tránh được sự chồng chéo chức năng, vừa không bỏ lọt những lĩnh vực cần quản lý;vừa bảo đảm sự điều hành xuyên suốt, thống nhất trong bộ máy, vừa tạo ra được sự chủ động, sáng tạo của mỗi cấp quản lý, có như vậy mới vừa bảo đảm thống nhất lợi ích chung của Nhà nước, vừa đảm bảo lợi ích của từng địa phương.
 Hoạt động quản lý hành chính Nhà nước có tính chấp hành và điều hành.
Tính chấp hành và điều hành của hoạt động quản lý Nhà nước thể hiện trong việc những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở pháp luật và nhằm mục đích thực hiện pháp luật, cho dù đó là hoạt động chủ động sáng tạo của chủ thể quản lý thì cũng không được vượt quá khuôn khổ pháp luật, điều hành cấp dưới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc tổ chức những hoạt động thực tiễn,trên cơ sở quy định pháp luật nhằm hiện thực hóa pháp luật.
Tính điều hành của hoạt động quản lý hành chính Nhà nước thể hiện trong việc chủ thể có thẩm quyền tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội. Trong quá trình đó, các chủ thể này, không chỉ tự mình thực hiện pháp luật mà quan trọng hơn cả chúng đảm nhận chức năng chi đạo nhằm vận hành hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo một quy trình thống nhất; tổ chức để mọi đối tượng có liên quan thực hiện pháp luật nhằm hiện thực hóa các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ quản lý.
Như vậy, trong mỗi hoạt động quản lý hành chính Nhà nước, tính chấp hành và tính điều hành luôn đan xen, song song tồn tại, tạo nên sự đặc thù của hoạt động quản lý hành chính Nhà nước, nhờ đó có thể phân biệt với hoạt động lập pháp và tư pháp: trong lập pháp, chấp hành là để xây dựng pháp luật làm cho pháp luật ngày càng hoàn thiện hơn; trong tư pháp, chấp hành là để bảo vệ pháp luật tránh khỏi sự xâm hại; còn trong quản lý hành chính, chấp hành là để tổ chức thực hiện pháp luật trong đời sống xã hội.
 Quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động mang tính liên tục.
Khác với hoạt động lập pháp và tư pháp, quản lý hành chính Nhà Nước luôn cần có tính liên tục, kịp thời và linh hoạt để đáp ứng sự vận động không ngừng của đời sống xã hội. Chính điểm đặc thù này được coi là một cơ sở quan trọng trong việc xác lập quy định về tổ chức và hoạt động, quy chế công chức, công vụ của bộ máy hành chính nhà nước; tạo ra bộ máy hành chính gọn nhẹ, có sự linh hoạt trong tổ chức, có đội ngũ công chức năng động sáng tạo, quyết đoán và chịu sự ràng buộc trách nhiệm đối với hoạt động của mình.















CHƯƠNG 2
CÁC PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM

2.1. Khái niệm phương pháp quản lý hành chính Nhà nước
Phương pháp quản lý là biểu hiện cụ thể của mối quan hệ qua lại giữa chủ thể với đối tượng và khách thể quản lý. Đó là mối quan hệ rất sinh động với tất cả sự phức tạp của đời sống giữa những con người cụ thể. Vì vậy các phương pháp quản lý mang tính chất đa dạng và phong phú, nó là bộ phận năng động nhất của hệ thống quản lý. Phương pháp quản lý thường xuyên thay đổi trong từng tình huống cụ thể tuỳ thuộc vào đặc điểm từng đối tượng, cũng như năng lực và kinh nghiệm của người quản lý.
Theo Đại từ điển Tiếng việt nhà xuất bản văn hoá thông tin-1998 thì Phương pháp là cách thức tiến hành để có hiệu quả cao.
Phương pháp quản lý hành chính Nhà nước là cách thức thực hiện những chức năng, nhiệm vụ của bộ máy hành chính Nhà nước, cách thức tác động của chủ thể quản lý hành chính lên các đối tượng quản lý nhằm đạt được những hành vi xử sự cần thiết.
Như vậy phương pháp quản lý hành chính Nhà nước có thể hiểu theo hai nghĩa sau:
2.1.1. Theo nghĩa hẹp
Phương pháp quản lý hành chính Nhà nước là cách thức mà chủ thể quản lý hành chính Nhà nước sử dụng đối với các đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục đích đã định trước.
Có thể tác động bằng nhiều cách khác nhau, tác động trực tiếp, tác động gián tiếp, tác động để đối tượng có liên quan tự giác thực hiện.
Thông qua phương pháp quản lý ta thấy được tính chất và nội dung của các mối quan hệ giữa đối tượng quản lý và chủ thể quản lý.
Phương pháp quản lý thể hiện ý chí của Nhà nước, nó có hình thức pháp lý nhất định.
2.1.2. Theo nghĩa rộng
Phương pháp quản lý hành chính Nhà nước là cách thức mà chủ thể quản lý hành chính Nhà nước sử dụng để tác động đến đối tượng quản lý nhằm đạt được những hành vi xử sự cần thiết.
Các phương pháp quản lý hành chính Nhà nước còn là cách thức tổ chức hoạt động của các chủ thể quản lý, thể hiện cách thức giải quyết những vấn đề phát sinh trong quá trình quản lý.
2.2. Đặc điểm của phương pháp quản lý hành chính Nhà nước
Phương pháp quản lý hành chính Nhà nước do các chủ thể quản lý hành chính Nhà nước tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình.
Chủ thể sử dụng các phương pháp quản lý hành chính Nhà nước chủ yếu là các cơ quan hành chính nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước có thẩm quyền trong bộ máy hành chính nhà nước như: Chính phủ, các Bộ, Uỷ ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban nhan dân và các cán bộ công chức có thẩm quyền trong các cơ quan này.
Mục đích của việc sử dụng các phương pháp quản lý hành chính Nhà nước là nhằm tác động tới đối tượng quản lý để đảm bảo hành vi xử sự cần thiết của đối tượng quản lý nhằm duy trì trật tự quản lý hoặc thực hiện các chủ trương, chính sách của chủ thể quản lý.
Phương pháp quản lý hành chính Nhà nước là cách thức thực hiện quyền lực nhà nước trong quản lý.
Khác với các tổ chức chính trị, chính trị xã hội khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình các chủ thể quản lý hành chính Nhà nước đại diện Nhà nước, mang quyền lực Nhà nước. Nên khác với phương pháp quản lý của các tổ chức xã hội chủ yếu là thuyết phục, phương pháp quản lý hành chính Nhà nước không chỉ là thuyết phục đối tượng quản lý mà còn được thực hiện bằng các mệnh lệnh hành chính, bằng sự cưỡng bức thực hiện thông qua các biện pháp cưỡng chế do pháp luật quy định.
Những phương pháp quản lý của các cơ quan hành chính Nhà nước được thể hiện dưới những hình thức quản lý hành chính Nhà nước nhất định và được tiến hành trong giới hạn do pháp luật quy định.
Phương pháp quản lý hành chính Nhà nước được thể hiện dưới những hình thức như: ban hành văn bản quy phạm pháp luật, ban hành văn bản dụng quy phạm pháp luật, thực hiện các hoạt động khác mang tính pháp lý
Ngoài ra, phương pháp quản lý hành chính Nhà nước phải được tiến hành trong khuôn khổ của pháp luật, nhất là những phương pháp có tính chất hạn chế quyền của đối tượng quản lý.
Các phương pháp này được pháp luật quy định chặt chẽ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục áp dụng. Chẳng hạn như việc thực hiện phương pháp cưỡng chế. Không phải bất kỳ cơ quan quản lý hành chính Nhà nước nào cũng có quyền áp dụng phương pháp cưỡng chế mà chỉ những cơ quan và người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật mới được áp dụng phương pháp cưỡng chế. Và mức độ áp dụng phương pháp cưỡng chế của các chủ thể đó cũng khác nhau tùy theo vị trí pháp lý của nó trong hệ thống cơ quan quản lý hành chính Nhà nước.
2.3. Các phương pháp quản lý hành chính Nhà nước
Như chúng ta đã được nghiên cứu, quản lý là sự tác động đến nhận thức và hành vi của con người. Trên thực tế, có hai khả năng tác động:
Khả năng thứ nhất là sử dụng tổng hợp những biện pháp và cách thức khác nhau để đảm bảo đạt được hành vi xử sự cần thiết một cách tự giác.
Khả năng thứ hai là sử dụng tổng hợp những biện pháp và cách thức khác nhau để bắt buộc thực hiện hành vi xử sự cần thiết.
Kết hợp những khả năng này dẫn đến hình thành những phương pháp quản lý hành chính sau đây:
• Phương pháp thuyết phục.
• Phương pháp cưỡng chế Nhà nước.
• Phương pháp hành chính.
• Phương pháp kinh tế.
• Phương pháp quản lý có mục tiêu, định hướng.
• Phương pháp quản lý tác nghiệp.
• Phương pháp kiểm tra.
2.3.1. Phương pháp thuyết phục
2.3.1.1. Khái niệm
Theo cách hiểu thông thường, thì thuyết phục là làm cho người khác thấy đúng, thấy hay mà tin theo, làm theo.
Là phương pháp quản lý bao gồm những hoạt động như giải thích, hướng dẫn, động viên, khuyến khích, trình bày, chứng minh, để đảm bảo sự cộng tác, tuân thủ hay phục tùng tự giác của đối tượng quản lý nhằm đạt một kết quả nhất định.
Thuyết phục trong quản lý hành chính Nhà nước là làm cho đối tượng quản lý hiểu rõ sự cần thiết và tự giác thực hiện những hành vi nhất định hoặc tránh thực hiện những hành vi nhất định.
Như vậy: Thuyết phục là hoạt động do các chủ thể quản lý hành chính Nhà nước (chủ yếu là các cơ quan hành chính Nhà nước) tiến hành, thông qua tuyên truyền, giáo dục, giải thích, hướng dẫn, nêu gương nhằm tạo ra ý thức về lối sống cộng đồng, ý thức pháp luật của mỗi công dân, tạo ra thói quen sống và làm việc theo pháp luật.
2.3.1.2. Nội dung của phương pháp thuyết phục
Phương pháp thuyết phục do chủ thể quản lý hành chính Nhà nước sử dụng để tác động lên đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình.
Bản chất của phương pháp thuyết phục là làm cho đối tượng quản lý hiểu rõ sự cần thiết và tự giác thực hiện hoặc tránh thực hiện những hành vi nhất định.
Phương pháp thuyết phục được thể hiện bằng những hoạt động như: giải thích, động viên, hướng dẫn, chứng minh... làm cho đối tượng hiểu rõ và tự giác chấp hành các yêu cầu của chủ thể quản lý.
2.3.1.3. Cơ sở của phương pháp thuyết phục
Trong quản lý hành chính Nhà nước, các chủ thể quản lý được sử dụng quyền lực nhà nước, được sử dụng các biện pháp cưỡng chế bắt buộc đối tượng quản lý phải tuân thủ những yêu cầu của mình, vậy vì sao vẫn cần phải sử dụng phương pháp thuyết phục?, phương pháp thuyết phục rất cần thiết và trong thực tế đó là phương pháp chủ yếu để các chủ thể quản lý hành chính Nhà nước thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình. Vì phương pháp này có những cơ sở sau đây:
Thứ nhất, do bản chất của Nhà nước.
Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, hoạt động của các cơ quan Nhà nước, trong đó có các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, để đảm bảo sự phát triển mọi mặt của các tầng lớp nhân dân. Do đó lợi ích của chủ thể quản lý hành chính Nhà nước và đối tượng quản lý hành chính Nhà nước không mâu thuẫn, đối lập nhau mà thống nhất với nhau. Chính vì thế mà phương pháp thuyết phục có cơ sở xã hội vững chắc và không riêng gì trong quản lý hành chính Nhà nước, mà trong tất cả các hoạt động của mình, phương pháp chủ yếu được các chủ thể quản lý hành chính Nhà nước dụng là phương pháp thuyết phục.
Thứ hai, do những hiệu quả của phương pháp thuyết phục mang lại trong hoạt động quản lý hành chính Nhà nước
Qua thực tiễn của quản lý hành chính Nhà nước, chúng ta thấy những nhiệm vụ và mục tiêu của quản lý hành chính Nhà nước chỉ có thể thực hiện được thông qua ý thức tự giác chấp hành pháp luật của người dân. Bởi sự tự giác thực hiện bao giờ cũng mang lại những hiệu quả tốt hơn sự cưỡng chế, bắt buộc phải thực hiện.
Ví vụ: Việc chấp hành quy định bắt buộc đội Mũ bảo hiểm.
Ngoài ra hiệu quả do phương pháp thuyết phục mang lại còn được thể hiện ở chỗ, khi người dân đã nhận thức được sự cần thiết phải thực hiện các quy định của pháp luật thì họ không chỉ tự giác chấp hành mà còn tham gia tích cực vào các công tác của quản lý hành chính Nhà nước, sáng tạo ra những cách làm hay, mang lại nhiều hiệu quả thiết thực.
Ví dụ: Bộ Công an đã phát đông phong trào quần chúng tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc, Hưởng ứng phong trào này, ở rất nhiều địa phương, quần chúng nhân dân đã có nhiều cách làm sáng tạo, nhiều mô hình hay để cùng lực lượng Công an nhân dân đấu tranh phòng chống tội phạm và các loại Tệ nạn xã hội
2.3.1.4. Yêu cầu của phương pháp thuyết phục
Thuyết phục là sự tác động đến nhận thức của đối tượng quản lý, do đó việc thuyết phục phải được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, kiên trì nhằm hình thành tri thức pháp luật, lòng tin vào pháp luật và có nhu cầu xử sự theo đúng pháp luật. Muốn vậy phải chỉ cho đối tượng quản lý thấy rõ lợi ích thiết thân của họ khi thực hiện theo các yêu cầu của chủ thể quản lý.
Phải kết hợp chặt chẽ với các tổ chức xã hội. Thông qua hoạt động của các Tổ chức xã hội để phát huy sự nhiệt tình, sự sáng tạo và tính chủ động của các đối tượng quản lý trong việc tham gia giải quyết các yêu cầu đặt ra cho quản lý hành chính Nhà nước.
Thuyết phục phải được tiến hành bằng nhiều hình thức với các phương tiện đa dạng, phong phú, sinh động.
2.3.2. Phương pháp cưỡng chế
2.3.2.1. khái niệm
Theo đại từ điển Tiếng việt Nhà xuất bản văn hoá thông tin 1998 thì cưỡng chế là bắt buộc phải tuân theo bằng sức mạnh quyền lực.
Cưỡng chế là biện pháp bắt buộc bằng bạo lực của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với một cá nhân hay tổ chức nhất định, về mặt vật chất hay tinh thần nhằm buộc các cá nhân hay tổ chức đó thực hiện những hành vi nhất định do pháp luật quy định, hoặc phải phục tùng những hạn chế nhất định đối với tài sản của cá nhân hay tổ chức hoặc tự do thân thể của cá nhân đó.
Cưỡng chế của Nhà nước là biện pháp của đa số với thiểu số và được áp dụng trong giới hạn do luật định.
Như vậy, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về phương pháp cưỡng chế như sau:
Cưỡng chế là biện pháp bắt buộc bằng bạo lực của cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền đối với những cá nhân, tổ chức nhất định trong những trường hợp pháp luật quy định buộc cá nhân, tổ chức đó phải thực hiện hay không thực hiện những hành vi nhất định hoặc phải phục tùng những hạn chế về mặt tài sản hoặc tự do thân thể.
2.3.2.2. Nội dung của phương pháp cưỡng chế
Chủ thể áp dụng phương pháp cưỡng chế phải là cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Chẳng hạn như: Cơ quan Công an, Uỷ ban nhân dân.
Đối tượng bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế là cá nhân, tổ chức nhất định trong những trường hợp pháp luật quy định. Chẳng hạn như: Cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính. Thông thường các biện pháp cưỡng chế được áp dụng khi quyết định của các chủ thể quản lý hành chính Nhà nước không được tự giác chấp hành.
Biểu hiện của phương pháp cưỡng chế là buộc cá nhân, tổ chức phải chấp hành các quyết định đơn phương của chủ thể quản lý. Cụ thể là buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện hay không thực hiện những hành vi nhất định hoặc phải phục tùng những hạn chế nhất định về mặt tài sản của cá nhân, tổ chức hoặc tự do thân thể của cá nhân.
2.3.2.3. Các loại cưỡng chế trong pháp luật Việt nam
2.3.2.3.1. Cưỡng chế tư pháp
Cưỡng chế tư pháp bao gồm cưỡng chế hình sự và cưỡng chế dân sự. Do các Toà án áp dụng theo trình tự tố tụng hình sự và tố tụng dân sự.
Được áp dụng đối với các hành vi vi phạm pháp luật hình sự và pháp luật dân sự.
 Cưỡng chế hình sự:
Là biện pháp cưỡng chế do các cơ quan có thẩm quyền áp dụng đối với những người có hành vi phạm tội hoặc bị tình nghi phạm tội.
Theo Bộ luật tố tụng hình sự 2003, có hiệu lực ngày 01/7/2004, thì Cưỡng chế hình sự gồm các cưỡng chế sau:
 Bắt bị can, bị cáo để tạm giam;
 Bắt người trong trường hợp khẩn cấp;
 Bắt người trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã;
 Tạm giữ;
 Tạm giam;
 Cấm đi khỏi nơi cư trú;
 Bảo lĩnh;
 Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.
 Cưỡng chế dân sự:
Là biện pháp cưỡng chế nhà nước do các cơ quan Tư pháp áp dụng đối với cá nhân hay tổ chức có hành vi vi phạm các quy phạm pháp luật dân sự, gây thiệt hại cho nhà nước, tập thể hoặc công dân.
Theo Bộ luật tố tụng dân sự 2004, thì cưỡng chế dân sự gồm các hình thức cưỡng chế sau:
 Giao người chưa thành niên cho cá nhân hay tổ chức châm nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục;
 Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng;
 Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền công, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động;
 Tạm đình chỉ quyết định sa thải người lao động;
 Kê biên tài sản đang tranh chấp;
 Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp;
 Cấm thay đổi hiện trạng đang tranh chấp;
 Phong toả tài sản tại ngân hang, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước, phong toả tài sản nơi gửi giữ;
 Phong toả tài sản của người có nghĩa vụ;
 Cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định.
2.3.2.3.2. Cưỡng chế kỷ luật
Là một trong những biện pháp cưỡng chế Nhà nước do Thủ trưởng cơ quan áp dụng đối với cán bộ, công chức của cơ quan đó vi phạm nội quy, quy chế của cơ quan hay vi phạm kỷ luật lao động.
Theo điều 78, luật cán bộ, công chức 2008, cưỡng chế kỷ luật đối với cán bộ bao gồm các hình thức:
 Khiển trách;
 Cảnh cáo;
 Cách chức;
 Bãi nhiệm.
Theo điều 79, luật cán bộ, công chức 2008, cưỡng chế kỷ luật đối với công chức bao gồm các hình thức:
 Khiển trách;
 Cảnh cáo;
 Hạ bật lương;
 Giáng chức;
 Cách chức;
 Buộc thôi việc.
2.3.2.3.3. Cưỡng chế hành chính
Cường chế hành chính: là biện pháp cưỡng chế Nhà nước do các cơ quan và người có thẩm quyền quyết định áp dụng đối với cá nhân hay tổ chức có hành vi vi phạm hành chính hoặc đối với một số cá nhân, tổ chức nhất định với mục đích ngăn chặn hay phòng ngừa các vi phạm pháp luật, vì lý do an ninh, quốc phòng hoặc vì lợi ích quốc gia.
Cưỡng chế hành chính bao gồm toàn bộ các biện pháp hạn chế quyền, bổ sung nghĩa vụ mới và thực hiện bắt buộc nghĩa vụ đã không được thực hiện do luật hành chính quy định, được áp dụng trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước, nhằm mục đích bảo vệ trật tự pháp luật.
Cưỡng chế hành chính là loại hình cưỡng chế độc lập trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế Nhà nước
 Cưỡng chế hành chính có những đặc điểm sau đây:
Việc áp dụng cưỡng chế hành chính nằm ngoài trình tự xét xử của toà án, chủ yếu do cơ quan quản lý hành chính Nhà nước áp dụng (Công an, kiểm lâm, thuế vụ...).
Cưỡng chế hành chính còn bao gồm cả việc áp dụng các chế tài kỷ luật đối với các cán bộ, công chức Nhà nước do người có thẩm quyền áp dụng đối với những vi phạm kỷ luật hay vi phạm pháp luật trong hoạt động công vụ. Tuy vậy, do tính chất đặc thù của các quan hệ công vụ Nhà nước, các chế tài kỷ luật và trình tự áp dụng chúng, mối quan hệ công tác giữa người có thẩm quyền xử lý kỷ luật với người vi phạm kỷ luật Nhà nước mà dạng cưỡng chế này được coi như một chế định độc lập và được xem xét riêng trong phần công vụ Nhà nước. Nghĩa là, không phải bất kỳ mọi biện pháp cưỡng chế ngoài phạm vi cưỡng chế Toà án cũng được coi là cưỡng chế hành chính.
Cưỡng chế hành chính không bao hàm cưỡng chế kỷ luật và khác với cưỡng chế kỷ luật ở chế tài, trình tự áp dụng, mối quan hệ giữa người có thẩm quyền áp dụng cưỡng chế và người bị cưỡng chế.
Nét đặc trưng của cưỡng chế hành chính (nếu so với cưỡng chế kỷ luật) là cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng cưỡng chế hành chính và cá nhân hay tổ chức bị áp dụng cưỡng chế không nằm trong quan hệ trực thuộc trên dưới về tổ chức, mà chỉ có quan hệ kiểm tra, giám sát. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi bổ sung 2007, 2008, 2010) quy định rõ những cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính gồm:
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, huyện, quận, thị xã, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Trưởng Công an phường; Trưởng công an cấp huyện; Trưởng phòng cảnh sát giao thông trật tự, Trưởng phòng cảnh sát hình sự, Trưởng phòng cảnh sát kinh tế, Trưởng phòng cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng cảnh sát quản lý xuất cảnh, nhập cảnh của Công an cấp Tỉnh; Thủ trưởng đơn vị cảnh sát đặc nhiệm ở Trung ương, Thủ trưởng đơn vị cảnh sát cơ động từ cấp đại đội trở lên hoạt động có tính độc lập; Chỉ huy trưởng Trạm công an cửa khẩu; Hạt trưởng hạt kiểm lâm; Trưởng Hải quan cửa khẩu; Đội trưởng Đội quản lý thị trường; Chỉ huy trưởng Tiểu khu biên phòng; Chỉ huy trưởng Hải đoàn biên phòng, Trưởng đồn biên phòng và thủ trưởng đơn vị bộ đội biên phòng đóng ở biên giới, hải đảo; Thanh tra nhà nước chuyên ngành; Người chỉ huy máy bay, tàu biển, khi máy bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảnh, cảnh sát biên Đội nghiệp vụ Cảnh sát biển; Hải đội trưởng Hải đội cảnh sát biển; Hải đoàn trưởng Hải đoàn cảnh sát biển; Cục trưởng Cục cảnh sát biển; Giám đốc Cảng vụ hàng hải; Giám đốc Vụ thuỷ nội địa; Giám đốc Cảng vụ hàng không.
Chỉ những cơ quan quản lý hành chính Nhà nước, người có chức vụ được pháp luật quy định có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng cưỡng chế hành chính mới có thẩm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế. Nghĩa là không phải bất kỳ cơ quan nào cũng có thẩm quyền áp dụng cưỡng chế hành chính. Mặt khác, mỗi cơ quan hành chính, người có chức vụ chỉ được áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhất định.
Cưỡng chế hành chính là sự cưỡng bức, bắt buộc công dân, hay tổ chức Nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế phải thực hiện các nghĩa vụ pháp lý được quy định bởi pháp luật hành chính và nằm ngoài phạm vi nội bộ của cơ quan, ngành.
Cưỡng chế hành chính được áp dụng theo trình tự thủ tục do pháp luật hành chính quy định. Việc áp dụng cưỡng chế hành chính được thực hiện theo trình tự thủ tục đơn giản hơn so với trình tự áp dụng cưỡng chế hình sự và kỷ luật.
Cưỡng chế hành chính được áp dụng để: phòng ngừa, ngăn ngừa những vi phạm pháp luật; trừng phạt người vi phạm theo trình tự xử lý hành chính; đảm bảo trật tự trong các trường hợp khẩn cấp khi chưa xảy ra vi phạm pháp luật.
 phân loại các biện pháp cưỡng chế hành chính thành bốn nhóm:
Căn cứ vào mục đích riêng của các biện pháp cưỡng chế hành chính, người ta phân loại thành các biện pháp phòng ngừa, các biện pháp ngăn chặn và các biện pháp trách nhiệm hành chính.
 Các biện pháp phòng ngừa được áp dụng nhằm ngăn ngừa những vi phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước cũng như đảm bảo các an toàn xã hội trong các trường hợp khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh, v.v... Các biện pháp này thông thường được áp dụng để ngăn ngừa những hiểm hoạ xảy ra đối với sinh mạng và tài sản của công dân, tài sản của Nhà nước, xã hội trong các hoàn cảnh khẩn cấp không liên quan đến những vi phạm pháp luật.
 Những biện pháp phòng ngừa gồm:
 Kiểm tra giấy tờ nhằm ngăn ngừa những vi phạm pháp luật (ví dụ, kiểm tra bằng lái xe ô tô, xe máy, nhãn hiệu hàng hoá, chứng minh thư nhân dân, bằng tốt nghiệp phổ thông, đại học...);
 Kiểm tra hộ tịch, hộ khẩu trong nhà ở của công dân khi có nghi ngờ về vi phạm chế độ đăng ký tạm trú;
 Kiểm tra hàng hoá, hành lý và cá nhân do các cơ quan hải quan thực hiện nhằm ngăn ngừa các vụ buôn lậu qua biên giới, trốn thuế hàng hoá nhập, xuất, hoặc để đảm bảo an toàn cho các chuyến bay, phát hiện các chất dễ cháy, dễ nổ;
 Ngăn cấm hoặc hạn chế xe cộ đi lại trên một tuyến đường khi xuất hiện nguy cơ mất an toàn giao thông trong các trường hợp sửa lại đường sá, xây cầu cống, bão lụt, cây đổ, v.v...
 Ngăn cấm vào khu vực đang có dịch bệnh;
 Kiểm tra bắt buộc sức khoẻ của những người làm công việc dịch vụ có liên quan đến thực phẩm, y tế, dễ gây ra dịch bệnh cho người tiêu dùng, bệnh nhân v.v…..;
 Trục xuất đối với người nước ngoài vi phạm pháp luật Việt Nam;
 Giáo dục tại xã, phường, thị trấn;
 Đưa vào trường giáo dưỡng;
 Đưa vào cơ sở giáo dục;
 Đưa vào cơ sở chữa bệnh, đối với người nghiện ma tuý, người mại dâm có tính chất thường xuyên;
 Quản chế hành chính đối với những người có hành vi vi phạm pháp luật phương hại đến lợi ích quốc gia nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
 Các biện pháp trưng dụng: trưng mua tài sản của cá nhân, tổ chức trong các trường hợp thật cần thiết để đảm bảo an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia.
 Các biện pháp ngăn chặn hành chính được áp dụng để dập tắt những hành vi vi phạm pháp luật, ngăn chặn hậu quả thiệt hại do chúng gây ra, hoặc để bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính gồm:
 Đình chỉ những hành vi vi phạm pháp luật do các cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng;
 Sử dụng vũ lực, vũ khí có hành vi chống đối việc thi hành công vụ hay trốn tránh trách nhiệm;
 Tạm giữ hành chính đối với những người vi phạm pháp luật;
 Tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm;
 Khám người;
 Khám phương tiện vận tải, đồ vật;
 Khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính;
 Đình chỉ hoạt động của xí nghiệp, nếu xét thấy có những vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, không có biện pháp phòng chống cháy, v.v...;
 Chữa bệnh bắt buộc đối với những người mắc bệnh truyền nhiễm, tâm thần;
 Tịch thu những công cụ, vật liệu, vũ khí dùng để vi phạm pháp luật;
 Các biện pháp cưỡng chế khác. Ví dụ, thực hiện việc cưỡng chế người xây nhà trái phép, lấn chiếm nhà ở trái phép.
 Biện pháp trách nhiệm hành chính: Gồm các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác.
2.3.3. Phương pháp hành chính
2.3.3.1. Khái niệm
Là phương pháp ra chỉ thị từ trên xuống. Phương pháp này bao hàm cả hai nhân tố; thuyết phục và cưỡng chế. Nó dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ.
Phương pháp hành chính là phương thức tác động tới cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng quản lý bằng cách quy định trực tiếp nghĩa vụ của họ qua những mệnh lệnh dựa trên quyền lực Nhà nước và phục tùng.
2.3.3.2.Đặc điểm của phương pháp hành chính
 Đặc trưng của phương pháp này là sự tác động trực tiếp của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng cách đơn phương quy định nhiệm vụ và phương án hành động của đối tượng quản lý.
 Chủ thể quản lý có quyền đưa ra nhiệm vụ và phương án hành động của đối tượng quản lý, có quyền kiểm tra việc thực hiện các mệnh lệnh của mình và có quyền áp dụng các hình thức kỷ luật nếu mệnh lệnh của mình không được chấp hành.
 Phương pháp này được tiến hành trong khuôn khổ của pháp luật. Phương pháp hành chính được tiến hành trong khuôn khổ của pháp luật, có nghĩa là các quyết định hành chính được ban hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chủ thể quản lý do pháp luật quy định. Ví dụ: Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp chỉ được ra chỉ thị, kiểm tra hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong khuôn khổ, chức năng, quyền hạn của mình do pháp luật quy định. Tóm lại, phương pháp hành chính là phương thức tác động đến cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng quản lý thông qua quy định trực tiếp nghĩa vụ của họ, qua những mệnh lệnh và sự phục tùng. Sử dụng phương pháp rất cần thiết trong hoạt động quản lý bởi vì cơ quan quản lý hành chính Nhà nước nào cũng phải dùng quyền lực Nhà nước để quản lý.
2.3.4. Phương pháp kinh tế
2.3.4.1. Khái niệm
Phương pháp kinh tế là phương pháp tác động gián tiếp đến hành vi của các đối tượng quản lý thông qua việc sử dụng những đòn bẩy kinh tế tác động đến lợi ích của con người.
Đây là phương pháp dùng đòn bẩy kinh tế, nhằm động viên cá nhân, tập thể tích cự lao động sản xuất, phát huy tài năng sáng tạo, hoàn thành nhiệm vụ được giao với năng suất chất lượng hiệu quả cao, bảo đảm kết hợp chặt chẽ lợi ích chung của xã hội và lợi ích riêng của người lao động.
Áp dụng phương pháp này cũng đồng nghĩa là tạo ra những điều kiện vật chất, khuyết khích bằng vật chất nhằm khơi dậy long nhiệt tình hăng say của người lao động cũng như người quản lý để họ thực hiện tốt các quy định của Nhà nước.
Những đoàn bẩy kinh tế thường được sử dụng như: tiền lương, giá cả, lãi xuất, tín dụng. Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như hiện nay. Thì phương pháp kinh tế ngày càng được phát huy tác dụng, đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý kinh tế.
2.3.4.2. Đặc điểm của phương pháp kinh tế
Đây là phương pháp tác động gián tiếp đến đối tượng quản lý thông qua lợi ích kinh tế.
Lợi ích là trung tâm của phương pháp kinh tế, nó cũng là cơ sở của phương pháp kinh tế.
Phương pháp kinh tế cần phải được quan tâm và ủng hộ thường xuyên hơn, bởi vì phương pháp kinh tế khác với phương pháp hành chính ở chỗ, đằng sau phương pháp hành chính đó là quyền lực của Nhà nước, đối với phương pháp kinh tế đằng sau nó là phải có tính hợp lý, là các quy luật kinh tế, một đặc điểm quan trọng của phương pháp kinh tế là phương pháp kinh tế chỉ có thể phát triển trong điều kiện có các tiền đề hành chính tương ứng.
Khác với phương pháp hành chính là sự tác động trực tiếp của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý bằng các mệnh lệnh hành chính, phương pháp kinh tế tác động một cách gián tiếp đến đối tượng quản lý bằng các lợi ích kinh tế.
Ví dụ: Việc quy định chế độ thưởng, người lao động nào cũng muốn được thưởng mức cao nhất. Muốn vậy họ phải cố gắng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Phương pháp kinh tế được thể hiện trong việc sử dụng đòn bẩy kinh tế như: quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh; Chế độ hạch toán kinh tế, chế độ thưởng nhằm tạo điều kiện vật chất thuận lợi cho hoạt động có hiệu quả của đối tượng quản lý phát huy năng lực sáng tạo, chọn cách tốt hơn, hoàn hảo hơn để hoàn thành nhiệm vụ, sử dụng hợp lý các tài sản được giao, không sử dụng hoang phí, pháp huy và khai thác hợp lý nhất những khả năng sẵn có.
2.3.5. Phương pháp quản lý có mục tiêu, định hướng
Mục tiêu, định hướng trong quản lý hành chính Nhà nước là một trong những việc làm không thể thiếu.
Trong quản lý hành chính Nhà nước để đạt được những hiệu quả nhất định, lâu dài, cũng như khả năng giải quyết các tình huống phát sinh trong quá trình quản lý Nhà nước thì còn phải tuỳ thuộc rất nhiều vào phương pháp quản lý có mục tiêu, định hướng.
Phương pháp quản lý có mục tiêu, định hướng có vai trò quan trọng trong việc chủ động định hướng các mục tiêu, chiến lược, chương trình lâu dài, tránh dàn trải phân tán, thiếu tập trung trong quản lý hành chính Nhà nước.
Phương pháp này còn có vai trò chủ động trong việc đặt ra các tình huống phát sinh trong thực tiễn hoạt động của nền hành chính đang phát triển trong thời kỳ hội nhập như hiện nay.
Bên cạnh đó nó còn có vai chủ động về nhân sự và các điều kiện vật chất cần thiết khác trong công tác quản lý, nhận rõ được điểm mạnh, điểm yếu ngay từ giai đoạn khởi xướng chương trình để có hướng hỗ trợ, bồi dưỡng thích hợp.
Ví dụ : Dự thảo Nghị quyết ban hành Chương trình cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011-2020 đã được Bộ Nội vụ trình lên Chính phủ xem xét, thảo luận trong phiên họp thường kỳ tháng 5-2011 (diễn ra ngày 2-6).
Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi (hay đọc là: "chương trình một-ba-năm"), là một trong các chương trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam do Nhà nước Việt Nam triển khai từ năm 1998. Chương trình được biết đến rộng rãi dưới tên gọi Chương trình 135 do Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phê duyệt thực hiện chương trình này có số hiệu văn bản là 135/1998/QĐ-TTg. Theo kế hoạch ban đầu, chương trình sẽ kéo dài 7 năm và chia làm hai giai đoạn; giai đoạn 1 từ năm ngân sách 1998 đến năm 2000 và giai đoạn 2 từ năm 2001 đến năm 2005. Tuy nhiên, đến năm 2006, Nhà nước Việt Nam quyết định kéo dài chương trình này thêm 5 năm, và gọi giai đoạn 1997-2006 là giai đoạn I. Tiếp theo là giai đoạn II (2006-2010).
2.3.6. Phương pháp tác nghiệp
Hoạt động tác nghiệp là hoạt động trực tiếp phục vụ cho các công tác chuyên ngành, thậm chí từng bộ phận công đoạn của quản lý chuyên ngành.
Phương pháp tác nghiệp đem lại hiệu quả cao nếu biết vận dụng phương pháp này một cách nhuần nhuyễn.
 Một số việc vận dụng nhuần nhuyễn sẽ đem lại hiệu quả cao như:
Có chương trình bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, phương pháp tác nghiệp sát với ngành nghề trong quản lý hành chính Nhà nước.
Liên tục cập nhật được kiến thức khoa học hiện đại trong công tác quản lý chuyên ngành.
Kịp thời ban hành những quyết định hành chính hoặc thực hiện các hoạt động mang tính chất nghiệp vụ - kỹ thuật hợp lý, đúng với yêu cầu chuyên môn.
Ban hành những quyết hành chính của các cơ quan quản lý hành chính Nhà nước hoặc thực hiện các hoạt động mang tính chất nghiệp vụ - kỷ thuật hợp lý, đúng với yêu cầu chuyên môn.
Hoạt động quản lý hành chính Nhà nước càng về cấp cơ sở, càng trực tiếp thì càng phải đặc biệt chú trọng tới phương pháp tác nghiệp.
Đối với phương pháp tác nghiệp, trong chừng mực nào đó nó có thể làm hạn chế những ý kiến chủ quan của các nhà quản lý hành chính Nhà nước, cũng như nắm bắt được bản chất của đối tượng quản lý và để đề ra các hình thức quản lý hành chính Nhà nước một cách thích hợp, thực tế hơn.
2.3.7. Phương pháp kiểm tra
Theo từ điển tiếng việt, Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét.
Kiểm tra là những hoạt động thiết yếu, thường xuyên của công tác quản lý Nhà nước, ở đâu có quản lý thì ở đó có kiểm tra.
Chính vì vậy, khi bàn về quản lý Nhà nước, Lê Nin đã nói: "Điều kiện tất yếu để công tác quản lý được chính xác là việc kiểm tra tình hình chấp hành Chỉ thị và Nghị quyết. Kiểm tra thường xuyên việc chấp hành là một trong những ưu điểm cơ bản nhất, tất yếu nhất của phương thức quản lý...”
Sự ra đời của Nhà nước đương nhiên có sự quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế-xã hội. Nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước đối với các hoạt động kinh tế-xã hội là dự đoán, kế hoạch, tổ chức, động viên, điều hành, kiểm tra, thanh tra. Do đó kiểm tra luôn gắn liền với hoạt động quản lý của Nhà nước. Quản lý hành chính Nhà nước là hoạt động mang tính dưới luật, điều đó đòi hỏi mọi hoạt động của các cơ quan hành chính Nhà nước phải bị kiểm tra bởi các cơ quan Nhà nước khác, của các tổ chức xã hội và công dân, nhằm đảm bảo pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính Nhà nước. Hoạt động kiểm tra đối với quản lý hành chính Nhà nước không đối lập, không cản trở hoạt động đó,
Hoạt động kiểm tra diễn ra ở tất cả các lĩnh vực kinh tế-xã hội, được thực hiện
th
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên
 
Các phương pháp quản lý hành chính-lý luận và thực tiễn.
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Luật 2008 Bạc Liêu :: Tài liệu làm luận văn-
Chuyển đến